Trang chủ / Chính trị / LẬP TRƯỜNG CỦA ASEAN VỀ BIỂN ĐÔNG LÀ KHÔNG THỂ LAY CHUYỂN

LẬP TRƯỜNG CỦA ASEAN VỀ BIỂN ĐÔNG LÀ KHÔNG THỂ LAY CHUYỂN

LẬP TRƯỜNG CỦA ASEAN VỀ BIỂN ĐÔNG LÀ KHÔNG THỂ LAY CHUYỂN

1- Malaysia đặt điều kiện tiên quyết về phi quân sự hóa Biển Đông trước khi bàn đến hợp tác kinh tế.

Khoảng 2 tuần sau khi Trung Quốc loan tin rằng họ đã đạt được một thỏa thuận hợp tác với Philippines về khai thác tài nguyên ở Biển Đông thì ngày 18-9-2019, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đã kêu gọi phi quân sự hóa Biển Đông. Chủ trương chính sách này nằm trong một tài liệu dài tới trên dưới 80 trang của Chính phủ liên minh Pakatan Harapan do ông Mahathir Mohamad làm thủ tướng. Đây có thể coi như một cuốn “sách trắng chuyên biệt” về chính sách đối ngoại khu vực của Malaysia trong vấn đề khai thác, sử dụng Biển Đông vào mục đích hòa bình, thể hiện những “quan điểm có tính nguyên tắc”, những “khung định hướng chính sách” của Chính phủ đương nhiệm ở Malaysia về vấn đề Biển Đông.

Tại thời điểm này Biển Đông đang “nóng lên” bởi các hoạt động của Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam khi đưa nhóm tàu khảo sát địa chất Haiyang Dizhi 8 vào khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, phớt lờ UNCLOS-1982, phớt lờ Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye PCA ngày 12-7-2016. Mặt khác, Ngày 16-9-2019 vừa qua, Trung Quốc cũng “đánh tiếng”, “chèo kéo” Malaysia về việc sẵn sàng cùng Malaysia thiết lập một cơ chế đối thoại song phương để giải quyết những bất đồng về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông.

Tài liệu của Chính phủ Malaysia giống như một câu trả lời chính thức không chỉ đối với Trung Quốc về việc hai nước thiết lập cơ chế đối thoại song phương mà còn thể hiện lập trường hòa bình của Malaysia và cách thức giải quyết những vướng mắc, va chạm về chủ quyền trên Biển Đông. Ngay sau khi lời “chèo kéo” được ông Cảnh Sảng đưa ra ngày 16-9-2019, Trung Quốc đã nhận được một kết quả hòa toàn trái ngược với mục tiêu của họ khi muốn lôi kéo Malaysia vào một cuộc “đi đêm” với Trung Quốc, một trong những thủ đoạn mà Trung Quốc thường dùng để chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông.

Khi giới thiệu tài liệu trên đây, ông Mahathir Mohamad đã nói: “Sự hợp tác đa phương đang bị đe dọa… các nước lớn đang đơn phương áp đặt ý muốn của họ đối với các nước khác… Malaysia quan ngại sâu sắc về diễn biến này”. Ông cũng chỉ rõ rằng: “Các mối đe dọa an ninh do các bên tuyên bố chủ quyền chồng chéo ở vùng biển tranh chấp đã được hạn chế nhiều và quản lý một cách hiệu quả bằng biện pháp ngoại giao”. Nhưng bên cạng đó: “Có một số điểm nóng có thể gây ra khủng hoảng hoặc chiến tranh nếu không được giải quyết thỏa đáng”.

Đây chính là câu trả lời rất thích đáng cho phía Trung Quốc. Và lập trường này của Malaysia cũng chính là lập trường của ASEAN tại các Hội nghị AMM-52 và ARF-26 tổ chức tại Thái Lan vừa qua, nơi mà Trung Quốc hoàn toàn bị cô lập khi các nước ASEAN đồng loạt phản đối các hành động gây bất ổn của Trung Quốc ở Biển Đông. Nó chứng tỏ rằng Malaysia không ủng hộ chính sách ngoại giao song phương của Trung Quốc để “nói chuyện riêng” với từng nước ASEAN về vấn đề Biển Đông. Nó khẳng định rằng cơ chế tiếp cận đa phương phải được tôn trọng, khẳng định rằng vấn đề khai thác và sử dụng Biển Đông phải vì mục đích hòa bình, phải bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Vấn đề phi quân sự hóa Biển Đông là mục tiêu theo đuổi từ nhiều năm nay không chỉ của các nước ASEAN, đặc biệt là các nước ASEAN tiếp giáp với Biển Đông mà còn là mục tiêu của các nước có lợi ích trong việc sử dụng Biển Đông cũng như hợp tác với các nước ASEAN để khai thác tài nguyên ở Biển Đông phục vụ cho mục đích hòa bình và phát triển. Tuy nhiên, mục tiêu này bị cản trở bởi hai nguyên nhân chính. Trước hết là sự cạnh tranh địa-chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn trên thế giới về cái gọi là “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông mà chủ yếu là Mỹ và Trung Quốc. Thứ hai là thái độ đơn phương áp đặt của Trung Quốc với những toan tính nhằm độc chiếm tới 80% diện tích Biển Đông nằm trong cái gọi là “vùng nước lịch sử” (đường lưỡi bò) mà Trung Quốc vẫn lập luận một cách vô căn cứ và không phù hợp với UNCLOS-1982.

Trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở Biển Đông, Mỹ là nước không tham gia ký kết UNCLOS-1982. Còn Trung Quốc thì dù có tham gia ký kết nhưng chưa bao giờ tôn trọng chữ ký của chính mình. Vì vậy, nguy cơ quân sự hóa Biển Đông đã trở thành hiện thực bởi các hành động của Trung Quốc bồi đắp các bãi đá ngầm Chữ Thập, Xubi và Vành Khăn thành đảo nổi và xây dựng các căn cứ quân sự ở đây, buộc các nước có chủ quyền quốc gia ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam phải tăng cường các biện pháp phòng thủ nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các vùng biển và hải đảo theo công pháp quốc tế quy định. Vấn đề phi quân sự hóa Biển Đông chỉ có thể được thực hiện khi Trung Quốc từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông, từ bỏ những “câu chuyện bịa đặt” về cái gọi là “vùng nước lịch sử”. Như cổ nhân thường nói: “Muốn cởi chuông thì hãy hỏi người buộc chuông”.

2- Lập trường của Malaysia cũng là lập trường của Việt Nam

Trong tài liệu được công bố ngày 18-9-2019, Malaysia nêu rõ lập trường của mình là “không đi với nước này để chống lại nước kia”. Đây là một nét mới trong chính sách đối ngoại của chính phủ Malaysia hiện nay.

Như người ta thường nói: “Thực tiễn là nơi kiểm nghiệm chính xác nhất đối với chân lý”. Mọi chính sách nào đó của một quốc gia nào đó cần phải có thời gian để kiểm nghiệm nó trong thực tiễn, xem nó vận hành thế nào, đạt hiệu quả ra sao rồi mới có thể có căn cứ xác đáng để đánh giá.

Chính sách ngoại giao “không đi với nước này để chống lại nước kia” vốn là chính sách của các nước thuộc “Phong trào không liên kết” được thành lập từ ngày 1-9-1961 với 120 quốc gia thành viên chính thức và 17 quốc gia, tổ chức quốc tế là quan sát viên. “Tuyên bố La Habana năm 1979” cũng nêu rõ năm nguyên tắc của khối này là:

– Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
– Không xâm lược lẫn nhau;
– Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
– Bình đẳng và hai bên cùng có lợi;
– Cùng tồn tại hòa bình.

Không ai khác, chính Trung Quốc, nước lớn nhất trong “Phong trào không liên kết” đã khởi xướng 5 nguyên tắc chung sống hòa bình này. Nhưng hiện nay, có vẻ như họ không còn “mặn mà” với chủ trương đó nữa. Đơn giản là nó không còn có lợi cho Trung Quốc trong việc cạnh tranh địa-chiến lược với Mỹ chứ không hề vì sự lỗi thời của 5 nguyên tắc đó vốn được 120 quốc gia của “Phong trào không liên kết” đã theo đuổi từ nhiều thập lỷ nay.

Chính sách “không theo nước này để chống lại nước kia” hoàn toàn phù hợp với 5 nguyên tắc nói trên. Nó có tác dụng ngăn ngừa những thế lực quá khích trong nước có thể vì quyền lợi riêng của một nhóm xã hội mà nó đại diện chủ động can dự hoặc bị lôi kéo vào những mâu thuẫn, xung đột giữa các nước khác không liên quan đến mình. Khi đó, quốc gia-dân tộc sẽ bị mất quyền tự chủ trong các lựa chọn chiến lược về kinh tế, chính trị hoặc nguy hiểm hơn là lựa chọn chiến tranh hay hòa bình. Điều chắc chắn sẽ xảy ra là một khi đi với nước này để chống lại nước kia thì đất nước mình sẽ trở thành mục tiêu quân sự cho các cuộc tấn công.

Các nhà lãnh đạo quốc gia, các chính khách tỉnh táo biết mình và hiểu người đều nhận thức rất rõ quan điểm này. Thủ tướng đương nhiệm Malaysia tuyên bố quan điểm này là vì bằng kinh nghiệm hơn 40 năm làm chính khách, đã từng là Thủ tướng Malaysia, ông có đủ thời gian và dữ liệu thực tiễn để kiểm nghiệm đầy đủ, nhận thức rất rõ và đánh giá chính xác về tác dụng ưu việt của chính sách “không liên kết” này trong việc gìn giữ hòa bình trên thế giới, trong khu vực nói chung và đối với Malaysia nói riêng. Đó là một chính sách hết sức tỉnh táo. Nó giúp cho một quốc gia có nhiều khả năng hiện thực để “thêm bạn, bớt thù”.

Việc Malaysia công bố tài liệu về chính sách đối ngoại ở Biển Đông cho thấy sự thất bại của Trung Quốc trong việc lôi kéo Malaysia nới riêng và các nước ASEAN nói chung vào vòng xoáy của mâu thuẫn, xung đột ở Biển Đông. Đồng thời, nó chứng tỏ sự phá sản của các thủ đoạn nhằm thiết lập một Liên minh Đông Nam Á nhằm cô lập Việt Nam do Trung Quốc điều khiển. 40 năm sau khi Việt Nam đánh bại tập đoàn diệt chủng Polpot-Yeng Sary, tay sai của Bắc Kinh ở Campuchia, ASEAN đã đoàn kết hơn, mạnh mẽ hơn, sáng suốt hơn và tự chủ hơn rất nhiều. Đến mức mà chính ngoại trưởng Mỹ Michael Pompoe đã phải thừa nhận tại Hội nghị ARF 16 vừa qua ở Thái Lan rằng Mỹ không thể bắt buộc các nước ASEAN đi theo nước này hoặc nước kia. Và Trung Quốc cũng nên thẳng thắn thừa nhận điều đó nếu muốn lấy lại uy tín trong con mắt các nước ASEAN nói riêng và thế giới nói chung.

#TâmMinhNguyễn

Xem thêm

Thủ đoạn “bẻ lái” một số vụ án hình sự trước thềm bầu cử

Trong thời gian qua, các đối tượng thù địch, chống đối, cơ hội chính trị …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *