Trang chủ / Tuổi trẻ / CON ĐƯỜNG TÔI ĐẾN VỚI KHÔNG QUÂN

CON ĐƯỜNG TÔI ĐẾN VỚI KHÔNG QUÂN

Tôi tên thật là Nguyễn Văn Hoa, sinh năm 1936, ở xã Hòa Thành, Lai Vung, tỉnh Sa Đéc. Ngày nhỏ tôi bị các anh em trêu tên là Hoa là tên con gái, xấu hổ quá, tôi bỏ tên Hoa lấy tên thứ Bảy là tên chính thức từ đó. Tháng 4/1954, ba của tôi ép phải lấy vợ, tôi “hoảng quá”, vội ôm quần áo bỏ nhà theo người bạn tên Lê, đang là bộ đội địa phương. Nửa tháng theo bạn mới được đơn vị nhận chính thức nhờ có anh trai làm xã đội trưởng bảo lãnh. Đêm đầu tiên, được giao cây súng gác đơn vị, tôi sung sướng quá, ôm súng đi lại suốt đêm, gác luôn hộ bạn, mặc dù lúc đó tôi chưa biết bắn súng làm sao.
Cuối năm 1954, tôi tập kết ra Bắc, được học bổ túc, được tham gia làm kinh tế cho đơn vị như đóng gạch, tăng gia chăn nuôi. Nhờ bản tánh cần cù chịu khó, tôi luôn được khen thưởng vì thành tích trong lao động sản xuất. Có lần đoàn khám tuyển phi công đến đơn vị, tôi trúng tuyển thế là được đi học Trường văn hóa Lạng Sơn. Lao động rất cừ, nhưng đi học là vấn đề hết sức khó khăn với tôi, những con chữ, những bài tính rối mù trong đầu, nhiều khi phải học vẹt trả bài thầy. Tháng 2/1960, tôi được cùng anh em khóa 2 sang Trường Không quân số 2 Trung Quốc. Cùng đi học với tôi có các phi công Trần Mạnh (đoàn trưởng), Nguyễn Phúc Trạch, Đồng Văn Đe… Nơi nước bạn, việc học tập của tôi lại càng vất vả hơn, trước hết vì ngôn ngữ, sau nữa lý thuyết ngành Không quân đòi hỏi trình độ cao mới tiếp thu hết được. Nhưng tôi đã tìm cách vượt qua, chăm chỉ học tập rèn luyện, đặc biệt là trong thực hành, tôi rất có khả năng làm theo thầy, mọi động tác thầy dạy tôi thường luyện tập thành thục, đến mức nhắm mắt lại cũng có thể chỉ từng bảng đồng hồ độ cao, tốc độ… hoặc thực hiện quy trình mở máy bay thì làm thành thục chẳng kém ai. Hôm đầu tiên được thầy cho thử nổ máy, vừa để máy nổ pành pành, tôi sướng quá thả tay ra vỗ tay đôm đổp. Thầy nắm vội cần lái mắng cho một trận nên thân, thầy đâu hiểu được tâm lý trò, từ một anh nông dân xe đạp còn chưa đi rành nay trở thành một phi công làm sao không mừng khi mình được điều khiến máy bay. Những ngày luyện tập lái máy bay YAK-18 thật vất vả với tôi. Không biết tại sao cứ ngồi lên buồng lái là tôi buồn ói, mà tôi ói thật, ói khắp sàn máy bay, ói ra cả mật xanh mật vàng. Tôi cố gắng vượt qua cơn ói. Nhiều bạn trong đoàn cũng bị như tôi, có người không chịu được phải chuyển sang học phục vụ mặt đất. Còn tôi thì nhớ tới lần Bác Hồ gặp cả đoàn trước khi đi học đã hỏi:
– Chú nào quê ở miền Nam đi học lái máy bay đợt này?
Tôi cùng các anh em miền nam giơ tay. Bác Hồ động viên:
– Các chú phải cố học thành tài, để sau này thông nhất nước thì lái máy bay chở Bác về thăm đồng bào miền Nam. Đồng bào thấy con em mình ra miền Bắc được ăn học thành phi công thì chắc sẽ vui mừng lắm.
…Niên xuống, thì tôi còn trực chiến ngoài đường băng, anh em cơ quan chính trị trung đoàn phải đưa cô ấy ra địa phương làm giấy đăng ký kết hôn giúp tôi. Tôi nhớ, lúc ấy tôi có đưa 10 đồng cho nhà bếp mua bánh, kẹo và 10 đồng mua 1 tút thuốc lá Thăng Long còn chè xanh xin của dân. Buổi chiều rút ban, tôi mới nói mọi ngưòi: “Tốì nay mình cưới vợ, các cậu qua chơi nghen!”. Vào buổi lễ, trung đoàn phó Đào Công Xưởng làm chủ hôn, đại diện cho nhà trai, còn tham mưu phó Chu Tất Bộ thì phải đóng đại diện nhà gái để tiện thưa gửi hai bên. Anh em ngồi quây quần với nhau bên nồi chè xanh nghi ngút khói. Chưa Kịp hút xong điếu thuốc, thì có điện của trên chuẩn bị một biên đội cơ động về Nội Bài. Thế là tiệc cưới giải tán, tất cả lại khẩn trương chuẩn bị lên đường.
Sau bảy ngày cưới, ngày 26/4/1966, biên đội của tôi gồm Chung, Tân, Bảy, Mẫn đang hoạt động ở vùng trời Võ Nhai (Bắc Thái), tôi phát hiện máy bay địch ở thế có lợi đang bám đuôi hai máy bay của Chiêm và Mẫn trong biên đội. Tôi và Tân đã nhanh chóng, bất ngờ lao thẳng vào giữa đội hình máy bay địch, làm chúng hoảng hốt tháo chạy. Tôi bình tĩnh bám chắc một chiếc, tới cự ly có hiệu quả đã nổ súng, máy bay địch lặn xuống tránh đạn. Tôi cho máy bay lật theo và bồi một loạt đạn nữa, máy bay địch bốc cháy rơi tại chỗ. Trong trận này biên đội bắn rơi hai máy bay F-4 của Mỹ, bắn bị thương một chiếc khác và về hạ cánh an toàn.
Trận đánh mà tôi nhớ nhất là trận đánh ngày 5/9/1966. Lúc này tôi đã bắn rơi được vài ba chiếc máy bay rồi, nên trong lễ 2/9, tôi nhường cho anh em phi công khác trực để lập thành tích kỷ niệm Quốc khánh, nhưng thời gian ấy địch không vào. Hôm ấy tôi cùng phi công Võ Văn Mẫn, quê ở Ba Tri, Bến Tre được phân công trực chiến sân bay Gia Lâm. Khoảng 4 giờ chiều, địch cho máy bay hải quân vào cầu Rẽ, hai máy bay ta được lệnh cất cánh. Nhưng khi bay vào khu vực thì địch đã rút. Lúc này mặt đất phát hiện một tốp máy bay địch khác vào Phủ Lý, Nam Hà, lập tức sở chỉ huy dẫn hai máy bay ta vào không chiến. Cách địch 15km, tôi đã phát hiện mục tiêu như hai chấm đen trước mặt. Còn cách 5km, tôi ra lệnh cho số hai thả thùng dầu phụ, tăng tốc đối đầu máy bay địch. Thấy khí thế hùng dũng của ta, hai máy bay địch hoảng loạn vòng phải, lợi dụng đám mây chạy trốn. Tôi thấy vậy thầm tính toán, nếu bám đuôi địch thì khó đuổi kịp được, vì tốc độ địch nhanh hơn, tôi quyết định bay cắt đón đương. Tôi hô lớn: Số 2 theo tôi. Quả nhiên qua đám mây thì nhìn thấy hai chiếc máy bay địch, bọn chúng thần hồn nát thần tính, vừa bay vừa làm động tác uốn éo để tránh đạn của ta, chính vì thế mà bị hạn chế tốc độ. Tôi bám chiếc thứ hai cách khoảng 250 mét xả súng vào buồng lái địch, tên phi công trúng đạn chết tại chỗ, mảnh mê ca văng ra, nhiều mảnh chui vào luồng gió hút cả vào động cơ máy bay Mẫn. Tôi lách ra, ra lệnh cho số 2 vào công kích. Phi công Võ Văn Mẫn bám ngay chiếc máy bay số 1 của địch và nổ súng tấn công. Chiếc máy bay trúng đạn, phi công địch nhảy dù. Tôi ra lệnh cho số 2: “Số 2 theo tôi về hạ cánh”. Chúng tôi sung sướng quá bay trở về. sở chỉ huy nhắc chú ý địch bám đằng sau. Tôi nói vào micrô: “Địch chỉ có hai thằng bắn ráo trọi rồi còn đâu nữa”. Tối ấy, Quân chủng báo cáo lên Bộ Quốc phòng, Bộ báo cáo với Bác Hồ. Bác có hỏi xem hai đồng chí phi công tên gì? Quê ở đâu? Biết là cả hai cùng phi công người miền Nam, Bác vui lắm và gửi tặng ngay hai huy hiệu của Người cho chúng tôi.
Ngày 16/9/1966, 16 chiếc máy bay địch gồm F-4 và F-105 xâm phạm vùng tròi Chí Linh, chúng đã phát hiện một biên đội 4 chiếc máy bay của ta nên chia thành nhiều tốp, bay ở nhiều tầng, nhiều hướng, giành thế có lợi nhằm kéo ta ra xa, buộc ta phải bị động phân tán để chúng bao vây tiêu diệt ta. Tôi cùng biên đội chủ động, linh hoạt, cơ động, giữ vững đội hình, yểm trợ cho nhau giành thế chủ động, buộc địch chiến đấu ở khu vực ta đã chọn. Toàn biên đội đã chủ động lúc đối đầu, lúc bám đuôi địch, nổ súng kịp thời chính xác, bắn rơi 3 máy bay F-4 và trở về hạ cánh an toàn, riêng tôi bắn rơi 1 chiếc.
Trận đánh ngày 24/4 /1967 cũng là trận đánh đáng nhớ của tôi. Trước đó 2 ngày, địch đã đánh nát sân bay Kiến An, nhằm chuẩn bị cho một đợt đánh phá Hải Phòng. Chỉ trong vòng một đêm, nhân dân và bộ đội ta đã vá kịp thời hàng chục lỗ bom trên sân bay. Chiều ngày 23/4 biên đội Bảy, Bôn, Hôn, Địch chuyển hướng từ Gia Lâm xuống sân bay Kiến An. Sáng hôm sau, biên đội cất cánh lên, vừa lên tới độ cao 1500m đã nhìn thấy máy bay địch như ruồi bay từng bầy trước mặt. Tôi quyết định cho biên đội lao vào giữa đội hình địch. Tôi hô lớn: “Tất cả theo tôi” rồi tôi vào trận. Máy bay địch thấy MiG-17 của ta thì hoảng sợ, vì chúng cứ yên trí không quân đã bị tiêu diệt hết rồi. Những chiếc cưòng kích của địch thì ném bom lung tung tháo chạy, còn bọn tiêm kích thì tìm cách bắn tên lửa. Tôi nhìn ra thấy tên lửa địch bắn như mạng nhện trên trời vậy. Tôi có kinh nghiệm khi nhìn thấy máy bay địch trước mặt đeo tên lửa, tôi không hoảng hốt mà quan sát, thấy tên lửa địch rơi ra khỏi cánh xịt khói là tôi biết nó bắn, lập tức tôi ngoặt gấp tránh để tên lửa địch sượt sau lưng, vì thằng địch bám đuôi là ta dễ bị tiêu diệt. Máy bay của địch to xác hơn máy bay ta, tốc độ lớn hơn, nên độ cơ động không linh hoạt bằng. Nếu địch chấp nhận không chiến là máy bay MiG-17 rất có lợi thế cơ động, bán kính vòng lại nhỏ hơn, nhanh hơn so với máy bay địch. Trận này tuy tôi không bắn rơi được chiếc nào, nhưng biên đội bắn rơi hai chiếc máy bay của địch, phá tan ý đồ đánh Hải Phòng của chúng. Bí thư Thành ủy Hải Phòng gửi tặng cho biên đội 1 chiếc rađio hiệu “Mẫu Đơn”.
Năm 1967, tôi được bầu vào Quổc hội khóa III và được vào đoàn Chủ tịch trong các kỳ họp Quốc hội. Đây cũng là niềm vinh dự cho tôi và nhờ đó tôi rất nhiều lần được gặp Bác Hồ, ấy là những lần chuẩn bị họp Quốc hội, bao giờ đoàn Chủ tịch có hội ý trước, Bác Hồ thường đến tham dự cùng. Tôi có một câu chuyện muốn kể cho Bác nghe, chẳng là trước khi tập kết ra Bắc, tôi có cùng anh chị em đi làm cỏ, sửa sang lại mộ cho cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Cao Lãnh. Ngày ấy, mọi người đã nói với nhau sau này ra miền Bắc sẽ kể tỉ mỉ việc ấy cho Bác nghe, nhưng thật không ngờ cơ hội ấy mãi mãi không còn. Bác Hồ đã ra đi vào ngày 3/ 9/1969, đứng túc trực bên anh linh của Người cùng các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Đàm Quang Trung mà tôi không kìm được nước mắt vì ân hận còn chưa làm tròn lời hứa đồng đội gửi gắm, nói cho Bác tấm lòng của bà con miền Nam với cụ Phó bảng và với Bác.
Tôi tham gia tất cả 13 trận đánh, bắn rơi 7 máy bay Mỹ và chưa một lần nào bị địch bắn cháy máy bay phải nhảy dù. Tôi đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, được 7 huy hiệu của Bác Hồ và 1 đồng hồ đeo tay do Bác Hồ tặng. Tôi đã trải qua nhiều cương vị khác nhau trong Quân chủng Phòng không – Không quân như: Trung đoàn trưởng trung đoàn 937, Phó tư lệnh sư đoàn không quân 372, sư đoàn trưởng sư đoàn không quân 376, Phó tham mưu trưởng Quân chủng Không quân. Tôi nghỉ hưu tháng 12/1989, tham gia vào Ban chấp hành Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay tôi vẫn là Trưởng ban liên lạc Hội cựu chiến binh Không quân tại thành phố Hồ Chí Minh.
Trích từ sách
50 năm không quân nhân dân Việt Nam
Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân (2005)
#ngannua

Xem thêm

VIỆT TÂN LẠI NHẮM VÀO XUYÊN TẠC VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM VỚI MƯU ĐỒ CHỐNG PHÁ BẦU CỬ

Việt Tân, Chân trời mới Media, Tiếng Dân…, thời điểm này, đang ra rả bài …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *